Giấc MộngWiki
Tìm
Giấc mộng trong văn chương & nghệ thuật

Tản Đà và Giấc mộng con: chuyến du hành trong mộng của thi sĩ

Giấc mộng con (1917, quyển hai 1932) là du ký tưởng tượng của Tản Đà: trong mộng, người kể đi ra thế giới rồi lên cõi tiên. Chìa khoá hiểu chất mộng, chất ngông của ông.

Tản Đà và Giấc mộng con: chuyến du hành trong mộng của thi sĩ

Giấc mộng con là tập văn xuôi tưởng tượng của Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu, 1889–1939), quyển một in năm 1917, quyển hai năm 1932. Người kể dùng giấc mộng làm phương tiện để đi những nơi ngoài đời không đi được: quyển một ra thế giới bên ngoài, quyển hai lên tới cõi tiên. Đây là một trong những tác phẩm văn xuôi chữ quốc ngữ sớm nhất mang tính du ký tưởng tượng, và là chìa khoá để hiểu chất "mộng" và chất "ngông" của Tản Đà.

Tản Đà là ai

Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh năm 1889 ở làng Khê Thượng, xứ Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội), mất năm 1939 ở Hà Nội. Bút danh ghép từ núi Tản (Tản Viên, tức Ba Vì) và sông Đà, hai cảnh sắc quê hương ông.

Ông xuất thân trong gia đình khoa bảng, học chữ Hán từ nhỏ, đi thi Hương nhưng không đỗ. Từ đó ông chuyển sang viết văn, làm báo bằng chữ quốc ngữ, một lựa chọn còn mới mẻ ở đầu thế kỷ 20. Ông từng làm chủ bút nhiều tờ báo và lập An Nam tạp chí (1926), tờ báo gắn với nhiều thăng trầm và cảnh túng thiếu của ông.

Trong văn học sử, Tản Đà được coi là nhà thơ đứng giữa hai thời: vẫn dùng thể thơ cũ, nhưng cái tôi cá nhân đã bộc lộ mạnh mẽ, phóng túng. Trong Thi nhân Việt Nam (1942), Hoài Thanh gọi ông là người "của hai thế kỷ" và viết rằng ông đã "dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kỳ đương sắp sửa", tức phong trào Thơ mới.

Giấc mộng con là loại sách gì

Giấc mộng con không phải thơ, cũng không hẳn tiểu thuyết theo nghĩa hiện đại. Đó là văn xuôi kể chuyện theo ngôi thứ nhất, người kể là chính tác giả, xen nhiều thơ, câu đối và lời bình. Khung truyện là một giấc mộng: người kể thiếp đi và trong mộng được đi những nơi xa.

Các nhà nghiên cứu văn học thường xếp nó vào loại du ký tưởng tượng. Người kể không thật sự đi, nhưng mô tả như thật, kèm suy nghĩ, bình phẩm về những gì "thấy" được. Ở đầu thế kỷ 20, khi đa số người Việt chưa từng ra khỏi tỉnh mình, đọc một cuốn sách đưa mình đi xa, dù chỉ trong mộng, là trải nghiệm mới lạ.

Hai quyển, hai chuyến đi

  • Quyển một (1917): người kể trong mộng được đi ra thế giới bên ngoài, qua nhiều miền đất xa lạ, tiếp xúc với những nền văn minh khác. Các bài giới thiệu văn học sử thường mô tả đây là chuyến "du lịch hoàn cầu" trong mộng.
  • Quyển hai (1932): chuyến đi lên cao hơn, tới cõi tiên, nơi người kể gặp gỡ những danh nhân, mỹ nhân vốn chỉ biết qua sách cổ.

Muốn biết chi tiết từng chặng, cách tốt nhất là đọc nguyên văn: cả hai quyển đều đã được in lại trong các tuyển tập Tản Đà. Ở đây chỉ bàn cái khung chung.

Vì sao lại là "mộng"

Tản Đà sống trong thời Pháp thuộc. Con đường khoa cử cũ đã đóng, con đường mới thì xa lạ. Đi Tây, đi xa là chuyện của số ít người có điều kiện. Một nhà nho nghèo yêu văn chương có nhiều khát vọng mà ít đường thực hiện.

Giấc mộng là lời giải văn chương cho tình thế đó. Trong mộng, người kể không cần tiền, không cần giấy thông hành, không cần ai cho phép. Đó là một cách để nghĩ về thế giới rộng lớn mà không phải đối mặt với giới hạn của đời thật. Nhiều nhà nghiên cứu coi chất "mộng" này là một phần tính cách sáng tác của Tản Đà, cùng với chất "ngông": dám tự đặt mình ngang hàng với tiên, với trời.

Chữ "con" trong tên sách cũng đáng để ý. Tản Đà đặt tên nhiều tác phẩm bằng chữ "con": Khối tình con, Giấc mộng con. Chữ "con" vừa khiêm tốn vừa trìu mến, như muốn nói đây chỉ là một giấc mộng nhỏ, một mối tình nhỏ của một con người nhỏ. Về sau ông lại viết Giấc mộng lớn, như một cặp đối.

Mộng trong thơ Tản Đà: Hầu Trời và Muốn làm thằng Cuội

Chất mộng không chỉ có trong Giấc mộng con. Hai bài thơ nổi tiếng nhất của Tản Đà đều là những chuyến đi lên trời.

Hầu Trời

Bài thơ in trong tập Còn chơi (1921) kể chuyện người thi sĩ được lên thiên đình đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe. Bài mở đầu bằng những câu nhấn mạnh rằng đây không phải mơ:

Đêm qua chẳng biết có hay không,

Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng.

Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!

Thật được lên tiên – sướng lạ lùng.

Chính việc cố khẳng định "không mơ mòng" lại cho thấy người kể biết rõ ranh giới ấy mỏng thế nào. Trong bài, thi sĩ đọc thơ say sưa, Trời khen, tiên nữ xúm lại nghe, và được giao việc xuống trần truyền bá "thiên lương". Một nhà thơ nghèo, văn chương bán không chạy dưới trần, chỉ có thể tìm được người hiểu mình ở trên trời. Đó vừa là ngông, vừa là chua xót.

Muốn làm thằng Cuội

Bài thơ bảy chữ này bắt đầu bằng lời than với chị Hằng:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!

Trần thế em nay chán nửa rồi.

Người thi sĩ muốn lên cung trăng, làm thằng Cuội ngồi gốc cây đa, "tựa nhau trông xuống thế gian cười". Lại một chuyến đi lên trời, lần này để thoát khỏi nỗi buồn dưới trần.

Giấc mộng lớn khác Giấc mộng con thế nào

Nếu Giấc mộng con là giấc mơ tưởng tượng, thì Giấc mộng lớn là chuyện đời thật. Ở đây Tản Đà kể lại cuộc đời mình theo lối tự truyện: gia đình, học hành, thi cử, những năm làm báo, những mộng ước lớn về văn chương và xã hội mà ông theo đuổi.

"Mộng lớn" vì thế không phải giấc mơ khi ngủ, mà là hoài bão. Đặt hai tên sách cạnh nhau, ta thấy Tản Đà dùng chữ "mộng" theo cả hai nghĩa của tiếng Việt: giấc mơ trong đêm và ước vọng của đời người.

Các mốc chính

NămSự kiện
1889Nguyễn Khắc Hiếu sinh ở làng Khê Thượng, xứ Sơn Tây
1916In Khối tình con quyển một
1917In Giấc mộng con quyển một
1921Tập Còn chơi, có bài Hầu Trời
1926Lập An Nam tạp chí
1932Giấc mộng con quyển hai
1939Tản Đà mất ở Hà Nội
1942Hoài Thanh, Hoài Chân đặt Tản Đà ở trang mở đầu Thi nhân Việt Nam

Góc nhìn hôm nay

Đọc Giấc mộng con hôm nay, người đọc sẽ thấy nhiều chỗ ngây thơ: hình dung về thế giới bên ngoài mang dấu ấn của một người chưa từng ra khỏi xứ sở. Nhưng chính sự ngây thơ ấy làm cuốn sách có giá trị như một tư liệu: nó cho thấy một trí thức Việt đầu thế kỷ 20 tưởng tượng về thế giới như thế nào, mong muốn điều gì, lo lắng điều gì.

Nó cũng nhắc rằng văn chương Việt từng dùng giấc mộng không chỉ để nói chuyện tình, chuyện phù du, mà còn để du hành và suy nghĩ về thế giới. Những giấc mộng trong văn học trung đại Việt Nam thuộc một trang khác trong hệ; Tản Đà là nhịp cầu bước sang thời hiện đại.

Muốn tìm hiểu thêm:

  • Tìm các tuyển tập Tản Đà toàn tập hoặc Tuyển tập Tản Đà ở thư viện; nhiều tác phẩm của ông đã hết thời hạn bảo hộ bản quyền và có trong các thư viện số.
  • Đọc trang Cung chiêu anh hồn Tản Đà mở đầu Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân.
  • Ghé khu lưu niệm Tản Đà ở quê ông tại Ba Vì, Hà Nội, dưới chân núi Tản, nhìn ra sông Đà, chính cảnh sắc đã cho ông bút danh.

Câu hỏi thường gặp

Giấc mộng con của Tản Đà viết năm nào?

Quyển một của Giấc mộng con in năm 1917, quyển hai in năm 1932. Đây là tập văn xuôi tưởng tượng, người kể đi xa trong giấc mộng. Tác phẩm thuộc giai đoạn đầu của văn xuôi chữ quốc ngữ.

Giấc mộng con kể về chuyện gì?

Người kể, cũng là tác giả, thiếp đi và trong mộng được đi những nơi ngoài đời không đi được: quyển một ra thế giới bên ngoài, quyển hai lên cõi tiên gặp những nhân vật trong sách cổ. Tác phẩm được xếp vào loại du ký tưởng tượng.

Tản Đà tên thật là gì?

Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu (1889–1939), quê làng Khê Thượng, xứ Sơn Tây, nay thuộc Hà Nội. Bút danh ghép từ núi Tản Viên và sông Đà ở quê ông.

Giấc mộng lớn và Giấc mộng con khác nhau thế nào?

Giấc mộng con là chuyến du hành tưởng tượng trong giấc mơ. Giấc mộng lớn là tự truyện, Tản Đà kể lại cuộc đời và những hoài bão thật của mình. "Mộng" ở tên sách sau mang nghĩa ước vọng, không phải giấc mơ khi ngủ.

Vì sao Tản Đà được coi là người mở đầu Thơ mới?

Thơ ông vẫn theo thể cũ nhưng cái tôi cá nhân phóng túng, đầy mộng và ngông, đã khác hẳn thơ trung đại. Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam coi ông là người dạo những bản đàn mở đầu cho phong trào Thơ mới.

Mở app Giấc Mộng

Gỡ nỗi lo trong mơ — mỗi giấc mơ một luật vật lý lạ

Mở app Giấc Mộng

Bài viết liên quan

Mở app Giấc Mộng

Gỡ nỗi lo trong mơ — mỗi giấc mơ một luật vật lý lạ

Mở app Giấc Mộng Xem app khác